HƯỚNG DẪN TRẢ LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG DO ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19

HƯỚNG DẪN TRẢ LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG DO ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19

HƯỚNG DẪN TRẢ LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG DO ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19

HƯỚNG DẪN TRẢ LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG DO ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19

HƯỚNG DẪN TRẢ LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG DO ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19
Trang chủ > Tin tức & Sự kiện

TRẢ LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG THỜI GIAN NGỪNG VIỆC VÌ DỊCH BỆNH COVID-19

       Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa gửi văn bản cho sở Lao động – Thương binh và Xã hội của các tỉnh và thành phố thuộc Trung ương nhằm hướng dẫn việc trả lương cho người lao động trong thời gian bị ngừng việc do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.

 

       Các doanh nghiệp phải thực hiện chế độ trả lương cho người lao động trong thời gian ngừng việc theo đúng quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:

 

I. Trả lương ngừng việc

Việc trả lương ngừng việc căn cứ vào quy định tại Điều 98 của Bộ luật Lao động để xem xét các trường hợp gây ra do ngừng việc (do lỗi của người sử dụng lao động hay người lao động hay do nguyên nhân khách quan) để xác định trả lương ngừng việc cho người lao động.

 

1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương

 

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương, những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

 

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

 

II. Người lao động ngừng việc do dịch Covid-19

 

Đối với trường hợp người lao động phải ngừng việc do tác động trực tiếp của dịch Covid-19 như:

 

    (i) Lao động là người nước ngoài trong thời gian chưa được quay trở lại doanh nghiệp làm việc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền

 

    (ii) Người lao động phải ngừng việc trong thời gian thực hiện cách ly theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền

 

   (iii) Người lao động phải dừng việc do doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp không hoạt động được vì chủ sử dụng lao động hoặc những người lao động khác cùng doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp đó đang trong thời gian phải cách ly hoặc trong thời gian chưa được quay trở lại doanh nghiệp làm việc

 

 Tiền lương của người lao động trong thời gian ngừng việc sẽ thực hiện theo khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động (tiền lương do hai bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định)

 

III. Trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn về thị trường và nguồn nguyên vật liệu

 

      a. Đối với trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn về nguồn nguyên vật liệu, thị trường dẫn đến không bố trí đủ việc làm thì người sử dụng lao động có thể tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 31 Bộ luật Lao động;

 

      1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.

 

      2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động.

 

      3. Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

 

     b. Nếu thời gian bị ngừng việc kéo dài ảnh hưởng đến khả năng chi trả của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 32 Bộ Luật Lao động;

 

       1. Người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự.

 

       2. Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

 

      3. Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

 

      c. Nếu doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dẫn tới giảm chỗ làm việc thì thực hiện sắp xếp lao động theo Điều 38 hoặc Điều 44 Bộ luật Lao động.

 

      Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

 

      1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

 

      a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

 

      b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

 

      c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

 

      d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

 

 

      2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

 

      a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

 

      b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

 

     c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

 

      Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

 

      1. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

 

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

 

      2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

 

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

 

       3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

 

 Nguồn: Thư viện pháp luật, công văn của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội

G